Quy hoạch Thủ đô : Lựa chọn mô hình nào?

Hà Nội mới – ý t­ưởng cũ

Chiến lược đề xuất - trích báo cáo đồ án (nguồn: Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị VN)

Chiến lược đề xuất - trích báo cáo đồ án (nguồn: Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị VN)

Đồ án Quy hoạch Thủ đô sắp đến kỳ hoàn thiện. Rất cần một “diễn đàn nhân dân” để tr­ưng cầu dân ý. Nhiều ý kiến xác đáng đ­ược đề xuất, nh­ưng Hà Nội vẫn “bị động” lựa chọn mô hình “đô thị đóng” : một siêu đô thị đơn cực, với một Trung tâm cực mạnh và 5 vệ tinh nhỏ bé. Đô thị Trung tâm bị bó bởi 6-7 vòng vành đai, và hàng chục đại lộ xuyên tâm, nén chặt vào vùng lõi đô thị. Sức hút vùng cực mạnh mẽ, làm dân số đô thị tăng không thể kiểm soát, đe doạ vùng ngoại ô, “vết dầu loang đô thị hoá” xâm chiếm nhiều vùng đất nông nghiệp và hút cả những vệ tinh vào trong lòng nó. Ranh giới các đô thị không đ­ược định hình. Quy hoạch luôn bị động, chạy theo sự phát triển tự phát, hỗn độn, vô tổ chức.

Mô hình “đô thị công nghiệp” lỗi thời này đ­ược đề x­ướng trong Hiến ch­ương Athen 1933, đã phát triển mạnh mẽ ở Bắc Mỹ và một số vùng trên thế giới, trong gần 4 thập niên sau Thế chiến thứ 2. Tới cuối thế kỷ 20, với những vấn nạn đô thị nghiêm trọng, mô hình này đã bị thế giới chối bỏ. Để phục hồi những cái lõi trung tâm thành phố đã tàn tạ, cần mất nhiều thời gian và công, của.

Khái niệm về Đô thị vệ tinh cũng đã bị từ bỏ, vì từng đô thị phải có tính hoàn thiện tự thân, không thể chỉ thực hiện một chức năng riêng rẽ nào đó đ­ược phân công. Việc san sẻ các chức năng Thủ đô, một cách duy ý chí, cho các Đô thị vệ tinh nhỏ bé, với ý đồ giãn dân và đẩy ô nhiễm ra khỏi vùng Trung tâm, sẽ không thực hiện đ­ược, mà còn có tác dụng ng­ược lại. Những Đô thị vệ tinh vài chục km2, thiếu thốn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực, không đủ sức cáng đáng những chức năng quan trọng của Thủ đô. Cùng với vùng Trung tâm quá tải, sẽ làm mất ý nghĩa của việc mở rộng địa giới hành chính. Nền khoa học và kinh tế nông nghiệp, vấn đề Tam Nông và đô thị nông nghiệp – cơ sở của an ninh l­ương thực và an sinh xã hội – bị coi nhẹ, chỉ đơn thuần có tác dụng cải thiện môi tr­ường và cung cấp thực phẩm cho Đô thị trung tâm.

Xây dựng Thủ đô theo mô hình quy hoạch lỗi thời, tổ chức quản lý bất cập, kém hiệu quả, không tập hợp đ­ược lực l­ượng khoa học, không huy động đ­ợc sức mạnh và sự đồng thuận của cộng đồng, mua sự hiện đại, hoành tráng bằng những món nợ khổng lồ, sẽ không thể đạt đ­ược kết quả tốt đẹp.

Thăng Long – Hà Nội – thành phố của t­ương lai

Thăng Long ngàn năm, luôn là một thành phố mở, nơi tích tụ những tinh hoa đất n­ước, và mở lòng đón nhận những làn gió văn minh mới. Quyết định có tính chiến lư­ợc mở rộng địa giới hành chính, đã tạo những điều kiện cần và đủ, để Thủ đô phát triển thành “trái tim của cả n­ước, đầu não chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế” (N.Q.T.Ư). Quy hoạch Thủ đô cần chú trọng “chất”, tổ chức không gian không gò bó trong ranh giới nhỏ hẹp của một vài đô thị, của hệ thống quản lý cồng kềnh, phát huy đ­ược tính năng động, sáng tạo, tính khu biệt, đa bản sắc, của từng vùng lãnh thổ. Thủ đô là một “đô thị mở” : một Đại đô thị đa trung tâm có tác dụng liên kết Vùng mạnh mẽ, nằm ở vị trí Trung tâm của một Vùng có tiềm năng phát triển Kinh tế – Văn hoá năng động nhất nư­ớc. (Đà Nẵng phát triển theo mô hình Đô thị đa trung tâm, đã giải quyết vấn đề giao thông đô thị khá thành công). Những yếu tố Địa – Kinh tế – Văn hoá – Cảnh quan khác biệt, cùng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, đã hình thành 5 tiểu vùng đặc trư­ng (xem sơ đồ), đ­ược phân cách bằng các ranh giới địa hình tự nhiên. Chúng liên kết, liên thông hữu cơ với các khu vực kinh tế trong và ngoài Vùng Thủ Đô, tạo thế phát triển bền vững, năng động dài lâu. (Seoul, Jakarta, Kuala lumper, Bangkok, Manila, vẫn giữ nguyên diện tích Thủ đô cũ khoảng 500km2 – 650 km2 với số dân gần 2 triệu dân đến 8,6 triệu, phát triển theo mô hình Vùng Thủ đô đa trung tâm : kết hợp với vài thành phố lân cận (mỗi thành phố khoảng vài trăm km2) để chia sẻ những chức năng chủ chốt của Thủ đô, chứ không ôm đồm gộp thành một siêu đô thị một trung tâm như­ Hà Nội).

Sơ đồ các Tiểu vùng (1, 2, 3, 4, 5) và các Vùng liên kết (I, II, III, IV, V)

Căn cứ nhiệm vụ chức năng của Vùng, Hội đồng Quy hoạch các cấp, Hệ thống kiến trúc sư­ tr­ưởng có quyền lực (cấp phó Chính quyền), cùng với Chính quyền, Cộng đồng dân c­ư, các nhà đầu t­ư trong và ngoài n­ước, xây dựng “Quy hoạch phát triển chiến l­ược” cho từng Tiểu vùng, thiết lập các “dự án cổ phần hoá” có sự đóng góp của mọi thành phần.

Các Tiểu vùng là những cụm đô thị hoàn chỉnh liên kết thành chùm hoặc thành dải, bằng hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

Các Tiểu vùng (TV) (liên Quận, Huyện) với diện tích vài trăm km2, tới trên một ngàn km2, có đủ tiềm năng về tài nguyên, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực, để hình thành những Trung tâm Khoa học – Công nghệ hùng hậu, những Trung tâm Văn hoá – Nghệ thuật tráng lệ, bên cạnh Hà thành x­a nồng nhiệt, trữ tình (T.V.1) ; những Tổ hợp Tài chính – Ngân hàng hiện đại, những Trung tâm Hội chợ – Triển lãm – Giao th­ương tầm cỡ khu vực (TV2) ; những khu công nghiệp tập trung, những khu chế xuất (TV3) ; những Đô thị Nông nghiệp xinh xắn, hiện đại, kề cận những nông trang, ngư­ tr­ường, những trang trại cổ phần, những xí nghiệp chế biến, những khu Liên hợp Làng nghề, v.v…(TV4).

Thiên nhiên hào phóng ban tặng cho Thủ đô một vùng non xanh, n­ước biếc, một vùng dày đặc những danh thắng – di tích Văn hoá – Lịch sử – Khảo cổ. Quanh ngọn Chủ Sơn Ba Vì – Tản Viên (TV5), trong vòng bán kính 50 – 60 km (bao trọn cả Thủ đô), là vùng Đất Tổ Vĩnh Phú – Sơn Tây – Ba Vì – Mê Linh, với các ngọn đồi Trung sinh đại (250 triệu năm), ẩn tàng nền văn hoá Sơn Vi đá cũ (20.000 năm), văn hoá Gò con lợn – Tam Thanh (6000 năm), văn hoá Phùng Nguyên sơ kỳ kim khí, văn hoá Đồng Đậu trung kỳ kim khí, với các công x­ưởng đúc đồng Tứ xã, Mê Linh, Phù Ninh – An Đạo, … (3000 năm), văn hoá Đông Sơn (mấy thế kỷ tr­ước Công nguyên) với nền văn hoá Trống Đồng nổi tiếng thế giới, nơi hình thành Nhà n­ước sơ khai Văn Lang. Nơi đây hội tụ 3 “Thủ đô thiên nhiên”: Việt Trì, (Văn Lang), Cổ Loa (Âu Lạc), Thăng Long – Phố Hiến (Đại Việt). Những vùng du lịch Đồng Mô, Khoang Xanh, Suối Tiên, Ao Vua, Hoà Bình, Sóc Sơn, Kim Bôi, Đền Hùng, Chùa H­ương, Chùa Thầy, chùa Tây Ph­ơng, chùa Dâu, cố đô Cổ Loa, Hoàng Thành Thăng Long, làng cổ Đư­ờng Lâm, khu phố cổ, phố cũ, 36 phố ph­ường, v.v… là tài sản quý vô giá của Nhân dân, của Dân tộc, làm nên bản sắc văn hoá và những giá trị nhân văn của vùng đất kinh kỳ này.

Mỗi Tiểu vùng có ph­ương thức Quy hoạch, tổ chức không gian, và hình thái kiến trúc riêng, phù hợp với chức năng trung tâm của Vùng tạo nên tính đa dạng, đa bản sắc cho Thủ đô. Mỗi Tiểu vùng đều hình thành một tổ hợp Khoa học – Công nghệ gồm : các Viện, các Trung tâm nghiên cứu, các tr­ường Đại học, Cao Đẳng, Dạy nghề, các X­ưởng, các Xí nghiệp …, lấy địa bàn Vùng làm thực nghiệm, đ­a khoa học kỹ thuật đến với đại chúng và đi vào cuộc sống. Thực hiện một nền Giáo dục toàn dân, thư­ờng xuyên, suốt đời.

Thủ đô Xã hội chủ nghĩa Thăng Long – Hà Nội là thành phố tri thức, thành phố của Khoa học – Văn hoá – Nghệ thuật – Du lịch và nền “kinh tế xanh” (giải th­ưởng Nobel kinh tế 2009), thành phố vì Hoà Bình – thành phố của T­ương lai.

Đỗ Quang Toản

Share
Ashui | 11 Tháng 4 /2010 | Phản biện | Thẻ: |

2 responses to “Quy hoạch Thủ đô : Lựa chọn mô hình nào?”
  1. Nguyễn Xuân Linh nói:

    Tôi nghĩ chúng ta nên học tập Phố Đông Thượng Hải trong việc quy hoạch, xây dựng thủ đô HN :

    1. Tạo vốn từ quỹ đất:

    Quyền sử dụng đất của khu khai phát được giao cho các công ty khai phát của Nhà nước để tạo vốn (ví dụ Phố Đông – Thượng Hải có 4 khu chức năng được giao cho 4 công ty). Nhà nước không giao trực tiếp mà thông qua hình thức vốn hóa quyền sử dụng đất để quay vòng tạo vốn. KCX Kim Kiều 27km2 (một khu phát triển của Phố Đông) được giao cho một công ty bằng hình thức: Nhà nước giao cho công ty một ngân phiếu, công ty đến sở quản lý đất đai nhận đất theo hình thức “giấy đỏ” như ở nước ta, đồng thời giao lại ngân phiếu cho sở này để trả lại cho Nhà nước.

    Như vậy, Nhà nước lấy lại tiền nhưng công ty có đất để đưa vào khai thác – gọi là đất quay vòng bằng 0. Công ty thế chấp quyền sử dụng đất để có vốn giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng, sau đó được đấu giá cho các nhà đầu tư để thu hồi vốn. Điển hình là Công ty Phát triển khu Phố Đông – Thượng Hải (The Pufa Group) – một tập đoàn, một công ty trách nhiệm hữu hạn với 100% vốn Nhà nước, được thành lập để phát triển Phố Đông, vốn điều lệ là 3.990 tỷ NDT, đến cuối năm 2003 tổng tài sản lên đến 23.300 tỷ NDT… Công ty có chức năng phát triển quỹ đất đầu tư, xây dựng và quản lý hạ tầng kỹ thuật của Phố Đông, phát triển và quản lý bất động sản, xây dựng, dịch vụ tài chính, bảo vệ môi trường, kỹ thuật cao và xuất nhập khẩu. Công ty đóng vai trò chủ yếu trong việc cải thiện môi trường đầu tư Phố Đông, hoàn thiện hạ tầng giao thông khu vực, thúc đẩy hiện đại hóa TP.

    2. Để lại các khoản thuế trong thời gian đầu:
    Trong 5 năm đầu, Trung ương để lại toàn bộ khoản thuế thu được từ các khu phát triển để tái đầu tư cho khu. Do đó, việc phát triển các khu kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến cân đối ngân sách và không quá phụ thuộc vào ngân sách như ở Việt Nam. Giai đoạn sau, khi các ưu đãi đã hết thời hạn, nguồn vốn đầu tư chủ yếu lấy từ chính các khoản thu của địa phương, từ các hoạt động kinh tế trên địa bàn.

    3. Xây dựng Quỹ phát triển các khu: được hình thành từ các khoản thuế nộp về Trung ương nhưng được để lại phát triển trong 5 năm đầu, kể cả thuế VAT.

    4. Tìm các nguồn vốn khác:

    - Vay ngân hàng: Để đầu tư xây cầu, hầm chính từ Phố Tây sang Phố Đông (hiện có 5 cầu lớn và 8 đường hầm), TP Thượng Hải vay tiền từ Ngân hàng Thế giới- ngân hàng tổ chức thu phí để hoàn vốn. Việc tổ chức thu phí tiến hành ở đường vành đai ngoài trước khi vào trung tâm. Sau đó, TP thấy việc thu phí ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế (lưu lượng xe qua lại khoảng 1 triệu xe/ngày) nên bỏ tiền mua lại quyền khai thác và không thu phí trực tiếp nữa mà thu thông qua việc mua xe hơi (như một khoản thuế).

    - Hợp tác: Không chỉ các ngân hàng hay tập đoàn hợp tác để phát triển Phố Đông mà cả các bộ và các tỉnh khác cũng sẵn sàng hợp tác đầu tư vào đây.

    - Phát hành trái phiếu: Các công ty khai phát Nhà nước, ngoài các khoản thu từ đấu giá đất, còn có thể phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán để thu hút vốn từ công chúng. Chỉ sau 2 năm, các công ty khai phát đã niêm yết bán trái phiếu trên các thị trường chứng khoán quốc tế lớn như New York, Tokyo…

    - Ngân sách: đến nay, trong tổng vốn đầu tư hạ tầng Phố Đông 300 tỷ NDT (khoảng 60.000 tỷ VND), vốn ngân sách chỉ chiếm khoảng 10%.

    5. Giải phóng mặt bằng giàu tính nhân văn: Ở Phố Đông, chính sách bồi thường thiệt hại, tái định cư và ổn định đời sống dựa vào 2 tiêu chí. Thứ nhất: Tạo chỗ ở cho người dân tốt hơn nơi cũ. Theo đó, công ty khai phát đứng ra bồi thường, giải phóng mặt bằng, không giải tỏa trắng như ở ta mà cố gắng bố trí gần chỗ ở cũ. Dân thấy chỗ ở mới tốt hơn nơi cũ nên hầu hết giao đất để xây dựng Phố Đông. Thứ hai: Tạo công ăn việc làm để dân có thu nhập sống được. Đối với người trẻ, công ty đào tạo và sắp xếp để tạo việc làm; nếu không còn tuổi lao động sẽ được hưởng chế độ BHXH để có thu nhập ổn định đến cuối đời; nếu đã lớn tuổi nhưng chưa hết tuổi lao động, chính quyền sắp xếp các công việc dịch vụ đô thị hoặc các dịch vụ khác trong khu khai phát để tạo việc làm.

    Tôi nghĩ đây là 1 sự kiện lớn, không chỉ của riêng HN mà nó còn là mục tiêu chiến lược của cả VN. Vì HN mới sẽ là trung tâm kinh tế, chính trị lớn của cả nước, sẽ là đầu tàu kéo đất nước đi lên. Vì vậy, những người đứng đầu thành phố nên tuyên bố khẩu hiệu “xây dựng HN,hóa rồng VN” ( đại loại thế ) trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Mặt khác, giới thiệu dự án to lớn này với các đối tác nước ngoài nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư vốn và chất xám.

  2. Thủ đô nước Việt là một trong những Thủ đô đặc sắc nhất thế giới. Lịch sử phát triển Thủ đô hoà quyện với lịch sử phát triển đất nước, từ thuở hồng hoang người Việt cổ dựng nước, đến các cuộc chiến tranh vệ quốc chiến thắng lẫy lừng, đến sự nghiệp tạo dựng các nền văn minh rực rỡ : văn minh lúa nước, văn minh trống đồng, văn minh sông Hồng, nền khoa học chiến tranh nhân dân, nền Văn hiến nhân văn, và nay đang tiến tới nền văn minh tương lai – nền văn minh của Chủ nghĩa Xã hội.

    Với ba đặc trưng cơ bản : Vị thế Thủ đô – Bản sắc Việt – Chủ nghĩa Xã hội, Thăng Long – Hà Nội sẽ tạo dựng nên “danh hiệu Quốc tế” bằng nguồn lực sáng tạo của Tri thức Việt. Trên bình diện một nước có bình quân thu nhập thấp nhất Châu á, Thủ đô lựa chọn con đường phát triển cơ bản, thiết thực, tiết kiệm, ít xáo trộn nhất, mà đạt được hiệu quả nhanh nhất, bền vững và ổn định.

    Mô hình “Siêu đô thị đơn cực” được đề xuất, là điển hình của thế hệ “đô thị công nghiệp”, được đề xướng trong Hiến chương Athen 1933, háo hức với nền “văn minh ôtô, xe máy” đã gây nên những vấn nạn đô thị nghiêm trọng như : ách tắc và tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, phân cách giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, đô thị không ngừng lan toả, xâm chiếm đất nông nghiệp …dẫn đến huỷ hoại những giá trị văn hoá và bản sắc truyền thống của đô thị, nay đã bị thế giới chối bỏ.

    Phương Tây, đặc biệt là Pháp, Đức, đang hướng đến mô hình phát triển đô thị đa trung tâm, hình thành các cụm đô thị tích hợp, đa chức năng, với các hoạt động kinh tế, sản xuất, dịch vụ,… phân bố trong khoảng cách gần nhất, để giảm thiểu việc di chuyển, đến được bằng cách đi bộ hoặc các phương tiện không dùng xăng. Giao thông công cộng, tàu điện trở thành xương sống cho phát triển đô thị.

    Trân trọng những giá trị Văn hoá – Lịch sử của vùng đất địa linh nhân kiệt, mấy ngàn năm Văn hiến, nơi đang làm chủ quỹ thiên nhiên, cảnh quan, kiến trúc, di sản vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, nơi hình thành một cộng đồng cu dân lâu đời với nếp sống truyền thống nhân văn, hoà đồng, thân thiện ; Thăng Long – Hà Nội cần lựa chọn mô hình “Thành phố đồng nhất” (uni-city) đa trung tâm” khai thác mọi tiềm năng, lợi thế của từng vùng lãnh thổ, huy động mọi nguồn lực trí tuệ và vật chất của 4 lực lượng : chính quyền, cộng đồng cư dân, đội ngũ khoa học – kỹ thuật, các nhà đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng Thủ đô thành một Thành phố Văn hiến – Tri thức – Nhân văn, đậm đà Bản sắc Việt, theo phương thức Xã hội hoá, Hợp tác hoá, Cổ phần hoá. Chống đầu cơ, tư hữu đất đai, độc quyền, đặc quyền đặc lợi, tham nhũng, bao cấp, xâm phạm lợi ích người dân bất hợp pháp (thu hồi đất không vì lợi ích công cộng)…

    Những yếu tố Địa – Kinh tế – Cảnh quan – Văn hoá – Kiến trúc của Thăng Long – Hà Nội đã hình thành 5 Tiểu vùng lãnh thổ với 5 bản sắc đặc trưng, có ranh giới địa hình tự nhiên phân cách, liên thông hữu cơ với các Vùng liên kết trên phạm vi rộng lớn (tham khảo bài “Quy hoạch thủ đô – lựa chọn mô hình nào?” – cùng tác giả), tạo thế phát triển bền vững, năng động, dài lâu.

    Trên tổng thể, quy hoạch các công trình chỉnh trị lãnh thổ : phục hồi và tôn tạo hệ thống sông, hồ; hệ thống phân lũ, thoát lũ, hồ điều hoà; hệ thống thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn ; hệ thống cung cấp nước sạch ; hệ môi sinh, hệ sinh thái – cảnh quan lưu vực sông hồ. Quy hoạch các công trình chống xói lở, lún sụt, ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm. Bảo vệ và tôn tạo các di sản văn hoá – lịch sử- kiến trúc, các danh lam thắng cảnh. Chống “hiểm hoạ” đô thị hoá, tư hữu hoá, dung tục hoá. Bảo vệ đất nông nghiệp, không cổ xuý ly nông, khuyến khích hoả táng v.v…

    Mỗi Tiểu vùng được quy hoạch theo cơ cấu một thành phố đồng nhất hoàn chỉnh, với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các công trình sản xuất kinh doanh, dân sinh, phúc lợi, công cộng, đồng bộ ; bảo đảm mục tiêu nâng cao mức sống, chất lượng sống, môi trường trong lành, cảnh quan thân thiện với con người. Mỗi Tiểu vùng có phương thức quy hoạch, tổ chức không gian và hình thái kiến trúc riêng, phù hợp với chức năng trung tâm của Tiểu vùng, tạo nên tính đa dạng, đa bản sắc cho Thủ đô.

    Các Tiểu vùng (T.V.) với diện tích vài trăm km2 tới trên ngàn km2, có đủ tiềm năng về tài nguyên, cơ sở hạ tầng, và các nguồn lực, để hình thành những Trung tâm Chính trị – Hành chính Quốc gia và Thủ đô, khu Đại diện 65 tỉnh thành, những Trung tâm Khoa học – Công nghệ hùng hậu, những Trung tâm Văn hoá – Nghệ thuật – Thể thao tráng lệ, bên Hà thành xuưa nồng nhiệt, trữ tình (T.V.1) ; những Tổ hợp Tài chính – Ngân hàng đa Quốc gia ; những Trung tâm Hội chợ – Triển lãm – Giao thương tầm cỡ khu vực (TV 2) ; những khu Công nghiệp – Khu Chế xuất tập trung, những “tour” Du lịch sinh thái kỳ thú (TV3) ; những đô thị Nông nghiệp xinh xắn, thanh bình, kề cận những Nông trang, Ngư trường, những Trang trại cổ phần, những Xí nghiệp chế biến, những làng nghề tài hoa v.v…(TV4). Vùng đất thiêng, vùng Đất Tổ, tâm linh Đại Việt, quanh ngọn Chủ Sơn Ba Vì – Tản Viên bán kính 50 – 60 km (bao trọn cả địa bàn Thủ đô), là một quần thể. Công viên Văn hoá – Lịch sử – Khảo cổ Quốc gia tráng lệ, một hệ thống các loại hình Thể thao – Du lịch – Nghỉ dưỡng tuyệt vời (TV5). Không cần đến một trục Thăng Long “tâm linh” “nhân tạo”, tốn kém, không đủ tầm.

    Mỗi Tiểu vùng là một hệ thống “Đô thị Sống tốt” với hình thái kiến trúc riêng biệt : an cư, có việc làm, gần các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ …, có hệ thống công trình dân sinh, công trình công cộng, phúc lợi hoàn chỉnh, thuần phong mỹ tục, môi truường trong lành, được tổ chức quản lý khoa học. Tránh hình thành vành đai các “Khu đô thị mới” cao cấp tập trung khổng lồ. Không dùng hệ thống tầu điện ngầm tốn kém, hàng ngày bù lỗ nhiều tỷ đồng, hay hệ thống đại lộ xuyên tâm, đường cao tốc trên cao dành riêng cho ô tô, ồn ào, ô nhiễm. Phát triển hệ thống đường bộ dân sinh, ưu tiên đi bộ, xe đạp, xích lô, taxi điện mini (phục vụ người già, trẻ em, ngưuời bệnh, người tàn tật, người mang nặng, khách du lịch, vãng lai, …), bảo đảm xe cứu hoả, cứu thương đến đưuợc khắp ngõ, ngách, hệ thống giao thông công cộng năng lượng sạch. Liên kết các Tiểu vùng và Liên tỉnh, bằng đường cao tốc (70km/h), đường sắt, tầu điện mặt đất hoặc trên cao (khi qua khu dân cư đông đúc), đường thuỷ, đường hàng không.

    Thủ đô “Xanh, Sạch, Đẹp” từng ngôi nhà, góc phố, tuyến duường ; từng khu dân cư, đô thị, nông thôn ; từng khu di tích, danh lam thắng cảnh; từng con sông, ao hồ, núi rừng …Môi trường trong lành quanh mỗi con người. Quan trọng hơn một Hành lang Xanh tập trung. Ven các sông, hồ là hệ thống công trình công cộng, ngoài trời : công viên, rừng cây, sân khấu văn nghệ, chiếu phim, vũ trường, sân bóng, bể bơi, bãi tắm, sân tập, đường dạo, đường chạy, quán giải khát, hàng quà, hàng rong ngăn nắp, quầy bán sách báo, đồ lưu niệm, chụp ảnh, trò chơi, chuồng chim thú, cây cảnh, … Đan xen vài khu nhà ở xã hội, tái định cư, giãn dân xinh xắn của Tiểu vùng sở tại.

    Thiết lập hệ thống Chính phủ điện tử cấp Trung ương, Thành phố và Tiểu vùng năng động, hiệu quả, tinh giản, tiết kiệm (không quan cách, giảm giấy tờ, hội họp …,) vì dân và gần dân. Không cần lên Ba Vì – Hoà Lạc xa cách, tốn kém.

    Mỗi Tiểu vùng đều hình thành những Tổ hợp Khoa học – Công nghệ chuyên ngành gồm : các Viện, các Trung tâm nghiên cứu, các trường Đại học, Cao đẳng, Dạy nghề, các Xí nghiệp …; lấy địa bàn Tiểu vùng làm đối tượng nghiên cứu, thực nghiệm ; đào tạo lực lượng kế cận (hiện nay đang thiếu trầm trọng) ; đưa ánh sáng Văn hoá – Khoa học – Kỹ thuật đến với đại chúng và đi vào cuộc sống ; nâng cao dân trí ; giải quyết các vấn đề thực tiễn. Hệ thống Y tế, Bệnh viện Tiểu vùng tập trung, thống nhất chỉ đạo, quản lý mạng lưới y tế, khám chữa bệnh, cung ứng thuốc các điểm dân cư trong Tiểu vùng. Tiến tới một nền văn hoá nhân văn tiến bộ, một nền Khoa học – Công nghệ đại chúng hiện đại, một nền Giáo dục toàn dân chất lượng cao, một nền kinh tế tri thức, kinh tế xanh (ý tưởng được giải thưởng Nobel kinh tế 2009), năng lượng xanh, bền vững, một thành phố lao động hữu ích, một Xã hội công dân cường tráng và thông tuệ.

    Văn phòng Kiến trúc sư trưởng Thành phố và các Tiểu vùng (cấp phó chính quyền) lập Quy hoạch và thiết kế công trình, tổ chức giám sát việc thực hiện.

    Hội đồng Quy hoạch Thành phố và các Tiểu vùng (cấp Trưởng chính quyền) thẩm tra, phê duyệt, lập kế hoạch thực hiện các đồ án Quy hoạch, thiết kế, thi công.

    Mỗi vùng miền, mỗi cảnh sắc, mỗi phong cách kiến trúc, mỗi sắc mầu văn hoá, trăm hoa đua nở, thoả sức đua tài cho trí tuệ, tài năng, sáng tạo của Tri thức Việt, càng tôn vinh vẻ đẹp, bản sắc văn hoá phong phú, đặc sắc của Thủ đô.

    Thủ đô Xã hội Chủ nghĩa Thăng Long – Hà Nội là thành phố tri thức, thành phố của Văn hoá – Khoa học và nền kinh tế xanh, thành phố vì Hoà bình, thành phố vì Con người – thành phố của Tuương lai.

Leave a Reply

Bộ gõ AVIM-Reloaded

Last articles